Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!

DỊCH VỤ XỬ LÝ RUỒI

DỊCH VỤ XỬ LÝ RUỒI

1.ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA RUỒI
Ruồi nhà Musca domestica có màu xám đen, toàn thân và chân có nhiều lông. Đầu ruồi hình bán cầu, có hai mắt kép. Ruồi đực có hai mắt kép gần nhau, ruồi cái có hai mắt kép xa nhau. Bộ phận ăng ten ở đầu ruồi ngắn, có 3 đốt; vòi ruồi được cấu tạo theo kiểu liếm hút, khi không ăn thì vòi gập được vào trong ổ miệng. Ngực ruồi có 3 đôi chân, một đôi cánh mỏng, trong suốt với 3 chân dọc.


Vòng đời của Ruồi
Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân người, phân gia súc hoặc xác các động vật. Ruồi sinh sản rất nhanh và nhiều nên mỗi khi có dịch bệnh do ruồi truyền xảy ra, bệnh lan tỏa khá nhanh. Ruồi ăn rất lâu, khoảng 2 giờ mới no và ăn tất cả các chất bỗ dưỡng cũng như chất thừa thải, ôi thiu. Chúng vừa ăn vừa nôn, vừa bài tiết, đạp rũ chân và gây ô nhiễm nơi ruồi đậu. Ruồi tìm thức ăn nhờ đôi râu và thích loại thức ăn có mùi thơm, tanh, thối. Thức ăn và chất thải của người thường là thức ăn của ruồi nên thực tế cho thấy ở đâu có người là ở đó có ruồi, vì vậy nên loại ruồi này được gọi là ruồi nhà (Musca domestica).
Chúng phát triển và hoạt động mạnh vào mùa nóng, mùa lạnh ít hoạt động và thường tìm nơi ấm áp để trú đậu. Trong môi trường sống, ruồi phát triển ở những nơi có điều kiện vệ sinh thấp kém.

2. CÁC BỆNH DO RUỒI GÂY RA
Ruồi nhà truyền bệnh theo phương thức không đặc hiệu và có khả năng truyền được rất nhiều loại mầm bệnh. Ruồi là loại côn trùng có vai trò truyền bệnh rất lớn do đặc điểm cấu tạo của ruồi có khá nhiều lông ở chân, ở vòi nên mang được nhiều loại mầm bệnh. Đồng thời chúng thích ăn phân, máu, mủ, chất nôn, các loại mầm bệnh vào cơ quan tiêu hóa nhưng không bị tiêu diệt mà vẫn tồn tại. Ngoài ra, ruồi cũng thích ăn các loại thức ăn của người và sống gần gũi với người; trong khi ăn chúng vừa ăn vừa nôn, vừa bài tiết… nên gây bẩn và ô nhiễm; có thể vận chuyển được nhiều loại mầm bệnh. Theo nhà khoa học Derbeneva – Ukhova năm 1952, ruồi nhà có thể mang trên thân mình 6 triệu mầm bệnh và ở trong ống tiêu hóa 28 triệu mầm bệnh. Ruồi nhà có khả năng truyền được mầm bệnh là các loại vi khuẩn như tả, lỵ trực trùng, lao, thương hàn…; các loại virus như đậu mùa, mắt hột, viêm gan, bại liệt…; các loại ký sinh trùng như lỵ amíp, trùng roi, trứng giun sán… Do đặc điểm sinh lý, sinh thái, khả năng vận chuyển mầm bệnh của ruồi nên chúng trở thành thủ phạm và chính là một trong các nguyên nhân quan trọng để gây nên sự phát sinh các dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh đường tiêu hóa.
2.1 Bệnh dịch tả
Bệnh dịch tả là bệnh do vệ sinh kém, cái nghèo và sự mâu thuẫn, gây ra do tiêu hóa thực phẩm và nước bị nhiễm phân. Ruồi (ruồi nhà, ruồi xanh) đóng vai trò trong việc lây bệnh bằng cách mang vi khuẩn (Vibrio cholera) từ phân bị nhiễm và các sản phẩm bị nhiễm bẩn khắp môi trường sống của con người.
Giai đoạn ủ bệnh là một đến năm ngày, sau đó vi khuẩn sản sinh ra một độc tố có thể gây tiêu chảy nước và ói nhiều dẫn đến mất nước trầm trọng và chết nếu không được điều trị – 25-50% các ca nặng tử vong.
2.2Bệnh nhiễm trùng đường ruột
Ruồi là sinh vật mang bệnh nhiễm trùng đường ruột (sinh vật đơn bào: Etomoebo histolytica) qua đường cơ học của sinh vật đơn bào do tiếp xúc trực tiếp với phân người hay các sản phẩm và bề mặt nhiễm bẩn. Ước tính có khoảng 50 triệu người bị nhiễm bệnh trên thế giới.
2.3Bệnh than (Ruồi trâu, ruồi nai, ruồi nhà, ruồi xanh, muỗi)
Bệnh có thể xảy ra trực tiếp khi lây vi khuẩn (Bacillus anthrax) từ một động vật này sang động vật khác hay ăn xác chết sau đó ỉa hay ói trên cây, sau đó động vật ăn cỏ gặm cây. Giai đoạn bào tử ngủ của bệnh than có thể kéo dài hàng chục năm trong đất, cho đến khi động vật ăn cỏ tiêu hóa hay hít vào, và sau đó hoạt động trở lại trong điều kiện thích hợp trong vật chủ.
Người bị nhiễm bệnh than qua ba con đường:
* Phổi, hít bào tử chủ yếu từ động vật bị nhiễm bệnh và các sản phẩm động vật khác. Triệu chứng bắt đầu giống như cảm cúm sau đó là viêm phổi và đau đường hô hấp trong vài ngày. Bằng cách điều trị, tỉ lệ tử vong khoảng 45% (trong năm 2001 bệnh than tấn công nước Mỹ khi gửi bào tử qua đường bưu điện).
* Dạ dày-ruột, ăn thịt bị nhiễm bệnh, gây tiêu chảy nghiêm trọng, viêm đường ruột cấp tính, ói ra máu. Tỉ lệ tử vong là 25-60%.
* Da,bào tửxâm nhập qua các vết đứt trên da khi xử lý động vật bị nhiễm hay sản phẩm động vật bị nhiễm bệnh, gây loét da. Không điều trị thì tỉ lệ tử vong là khoảng 20%.
3. BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Phòng chống ruồi sinh sản và phát triển bằng cách triệt bỏ các nguồn thức ăn của ruồi như thường xuyên vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, quản lý và xử lý các loại chất thải. Đồng thời triệt phá các nơi sinh đẻ của ruồi ở chuồng gia súc, hố xí, hố rác bằng cách xây gạch hoặc nện chặt đất, đậy kín…

         Hãy liên hệ với công ty chúng tôi để được chuyên gia hang đầu tại Việt Nam về xử lý các loài Côn Trùng, chúng tôi sẽ tư vấn miễn phí qua số điện thoại. Sau đó, chúng tôi sẽ giúp khách hàng lựa chọn phương án thi công phù hợp với điều kiện của quí vị nhất.

ThS. Mai Đình Thắng

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *